Tao giữ cái áo của bà ngoại cho đến khi nó mục
I Kept My Grandmother's Shirt Until It Fell Apart
Bà ngoại tao chết hồi tao hai mươi ba.
Không đột ngột. Bà bệnh lâu rồi. Ai cũng biết. Mà tao vẫn không tin.
Hồi nhỏ tao ở với bà. Ba mẹ đi làm xa, gửi tao về ngoại từ lúc bốn tuổi. Bà nuôi tao bằng cơm trắng chan nước mắm, bằng quạt mo cau buổi trưa, bằng cái giọng kể chuyện đời xưa mà tao nghe hoài không chán.
Bà có cái áo bà ba màu nâu. Vải thô, sờn cổ, mấy chỗ vá bằng chỉ khác màu. Bà mặc cái áo đó suốt. Đi chợ cũng mặc. Nấu cơm cũng mặc. Ngồi ngoài hiên nhìn mưa cũng mặc.
Tao quen mùi cái áo đó hơn quen mùi nhà mình.
Ngày bà mất, người ta dọn đồ bà ra. Mấy dì mấy cậu chia nhau mấy thứ lặt vặt. Cái tủ gỗ cho nhà dì Hai. Bộ chén cho cậu Ba. Mấy cái nồi ai lấy thì lấy.
Không ai lấy cái áo nâu.
Tao lấy.
Gấp lại, bỏ vô bọc ni lông, mang về phòng trọ.
Năm đó tao mới ra trường, đi làm ở Sài Gòn. Phòng trọ mười lăm mét vuông, chứa một cái giường, một cái bàn, một cái quạt. Và cái áo của bà.
Tao để nó trong ngăn tủ trên cùng. Không mặc. Không giặt. Chỉ để đó.
Thỉnh thoảng, tối nào buồn quá, tao lấy ra. Ôm. Ngửi. Cố tìm lại mùi bà.
Năm đầu tiên, tao còn ngửi thấy. Mùi dầu gió. Mùi khói bếp. Mùi mồ hôi khô. Mùi bà.
Năm thứ hai, mùi nhạt đi.
Năm thứ ba, tao ngửi mà chỉ thấy mùi vải cũ.
Tao hoảng.
Tao bắt đầu sợ. Sợ một ngày cái áo này không còn gì của bà nữa. Nó sẽ chỉ là một miếng vải nâu, sờn, rách, vô nghĩa.
Tao bọc kỹ hơn. Hai lớp ni lông. Rồi ba lớp. Bỏ vô hộp. Dán kín.
Mỗi lần mở ra, tao biết mùi sẽ bay đi thêm một chút. Nên tao ít mở hơn.
Rồi tao không mở nữa.
Cái áo nằm trong hộp, trong tủ, trong góc phòng trọ. Tao dọn nhà ba lần, mang nó theo ba lần. Không mở.
Tao hai mươi sáu. Rồi hai mươi bảy. Rồi hai mươi tám.
Một hôm dọn nhà lần thứ tư, tao mở hộp ra.
Cái áo mục.
Vải nát ở vai. Chỗ vá bung chỉ. Mấy con mối ăn một lỗ ở lưng. Tao cầm lên, nó rách thêm.
Không còn mùi gì.
Tao ngồi giữa đống đồ dọn dở, cầm cái áo rách, khóc.
Không phải khóc vì nhớ bà. Tao nhớ bà mỗi ngày, chuyện đó tao quen rồi.
Tao khóc vì tao hiểu một chuyện. Tao giữ cái áo không phải vì bà. Tao giữ vì tao. Vì tao không chịu được cái cảm giác bà biến mất hoàn toàn. Tao cần một thứ gì đó, bất kỳ thứ gì, để chứng minh bà từng ở đây. Để chứng minh tuổi thơ tao từng có người ôm.
Mà cái áo thì không giữ được.
Vải mục. Mùi bay. Chỉ rã.
Tao giữ chặt quá nên nó nát trong tay.
Hồi bà còn sống, bà hay nói: "Con giữ cái gì thì giữ trong bụng, đừng giữ trong tay. Tay buông được, bụng không quên."
Tao hồi đó không hiểu.
Bây giờ tao ngồi đây, hai mươi tám tuổi, cầm cái áo rách, mới hiểu.
Tao đã cố giữ bà bằng một miếng vải. Mà bà đâu có ở trong miếng vải.
Bà ở trong cái cách tao nấu cơm. Tao vo gạo bằng tay, không bao giờ dùng rổ, vì bà dạy vậy. Bà ở trong cái cách tao ngồi ngoài hiên mỗi chiều, dù phòng trọ không có hiên, tao kê cái ghế nhựa trước cửa, ngồi nhìn xe chạy, y như bà ngồi nhìn mưa.
Bà ở trong tao. Không cần cái áo.
Mà tao mất năm năm mới thấy.
Tao vứt cái áo đi.
Không. Không phải vứt. Tao đốt.
Mang ra sân sau phòng trọ, đốt trong cái thau nhôm. Lửa cháy nhanh lắm. Vải mục cháy như giấy. Hai phút là tro.
Tao đứng nhìn tro.
Không thấy mất.
Lần đầu tiên sau năm năm, tao không thấy mất.
Tao nhớ hồi bà mới chết, tao cứ nghĩ mất bà là mất hết. Mất tuổi thơ. Mất chỗ dựa. Mất cái mùi quen. Tao ôm cái áo như ôm cái phao.
Mà cái phao nào rồi cũng xẹp.
Tao nhìn lại, thấy một vòng lặp. Mỗi lần mất một thứ gì, tao tìm một thứ khác để bám. Mất bà, bám cái áo. Mất mối tình đầu, bám mấy cái tin nhắn cũ trong điện thoại. Mất công việc đầu tiên, bám cái thẻ nhân viên.
Tao cứ tưởng giữ được đồ vật là giữ được người. Giữ được ký ức. Giữ được cảm giác.
Mà không.
Đồ vật mục. Tin nhắn xóa. Thẻ nhân viên hết hạn.
Cái gì có hình thì có lúc mất hình.
Cái gì không hình thì ở lại.
Bà ở lại. Không phải trong cái áo. Trong cách tao sống.
Tao hai mươi tám. Tao bắt đầu hiểu một chuyện mà có lẽ phải sống thêm mấy chục năm nữa mới hiểu hết.
Mất không phải là hết.
Mất là thay đổi hình dạng.
Cái tro trong thau nhôm bay đi. Gió cuốn. Không biết đi đâu.
Tao đứng đó, tay không, mà không thấy trống.
天下萬物生於有,有生於無
Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô
Vạn vật trong thiên hạ sinh từ Có, Có sinh từ Không.
All things in the world are born of being; being is born of non-being.
— Lão Tử, Đạo Đức Kinh, Chương 40
Diễn giải
Interpretation
Lão Tử nói vạn vật sinh từ có, có sinh từ không. Nghe triết lý xa vời, nhưng nghĩ lại thì đời thường lắm. Bà mất, cái áo mục, mùi bay. Cái "có" biến thành "không". Mà từ cái không đó, thứ khác sinh ra. Cách tao vo gạo, cách tao ngồi ngoài cửa nhìn trời, cách tao sống mỗi ngày mà không biết đó là bà. Cái không sinh ra cái có mới. Tao cứ tưởng giữ chặt cái có thì không mất. Mà giữ chặt quá thì nó nát. Buông ra, nó tự thành thứ khác. Không phải mất. Chỉ là đổi hình. Ông già Lão Tử nói câu đó mấy ngàn năm trước, chắc ổng cũng từng cầm một thứ gì đó trong tay, thấy nó mục, rồi hiểu.
Laozi said all things are born from being, and being is born from nothing. Sounds abstract, but it's actually the most ordinary thing. She died, the shirt rotted, the scent vanished. Something became nothing. But from that nothing, something else was born. The way I rinse rice, the way I sit outside watching the sky, the way I live each day without realizing it's her. Nothing gives birth to a new something. I thought holding tight to what existed would keep it from disappearing. But grip too hard and it crumbles. Let go, and it becomes something else. Not lost. Just changed shape. The old man Laozi said that thousands of years ago. He probably held something in his hands once too, watched it fall apart, and understood.