Bà ấy chết rồi tôi mới biết tên
She Died Before I Knew Her Name
Tôi sống ở chung cư này mười bốn năm.
Tầng bảy. Căn 704. Cửa sơn xanh nhạt, bị tróc ở góc dưới bên phải.
Bà ở căn 706. Cửa sơn trắng. Lúc nào cũng đóng.
Mười bốn năm, tôi gặp bà có lẽ vài trăm lần. Trong thang máy. Ở hành lang. Ngoài sảnh lúc lấy thư. Tôi gật đầu, bà gật đầu. Đôi khi tôi nói "chào chị", bà nói "chào anh". Rồi thôi.
Tôi không biết bà tên gì.
Không biết bà làm nghề gì. Có con không. Có ai đến thăm không. Tôi chỉ biết bà hay mặc áo xám, đi dép lê, tóc búi gọn phía sau.
Mười bốn năm ở cạnh nhau, cách một bức tường, mà tôi không biết gì về bà ngoài cái gật đầu.
Rồi một hôm, tôi thấy có người dán giấy ở sảnh.
Thông báo tang.
Bà tên Nguyễn Thị Hạnh. Sinh năm 1951. Mất ngày mười hai tháng ba.
Tôi đứng đọc tờ giấy đó lâu lắm.
Nguyễn Thị Hạnh.
Mười bốn năm tôi không biết hai chữ đó.
---
Đám tang tổ chức ở tầng trệt, trong cái phòng sinh hoạt chung mà bình thường để họp ban quản lý. Có khoảng hai mươi người đến. Tôi không quen ai.
Con gái bà từ Sài Gòn ra. Một người phụ nữ chừng bốn mươi, mắt đỏ, tóc rối. Cô ấy đứng cạnh quan tài, cúi đầu, không nói gì.
Tôi đến thắp nhang. Nhìn ảnh bà trên bàn thờ. Bà cười. Ảnh chụp lúc trẻ, có lẽ ba mươi mấy. Mặc áo dài trắng. Đẹp.
Tôi nhìn ảnh đó mà nghĩ, mười bốn năm tôi chưa bao giờ thấy bà cười.
Không phải bà buồn. Chỉ là chúng tôi chưa bao giờ đủ gần để cười với nhau.
---
Con gái bà kéo tôi lại. Hỏi tôi ở căn nào. Tôi nói 704.
Cô ấy nói, mẹ em hay nhắc ông 704.
Tôi ngạc nhiên. Hỏi nhắc gì.
Cô ấy nói, mẹ em nói ông 704 hay gật đầu chào. Mẹ em thích vậy. Mẹ em nói ở đây ít người chào nhau.
Tôi đứng nghe mà không biết nói gì.
Mười bốn năm. Cái gật đầu của tôi, tôi nghĩ nó chẳng là gì. Một phản xạ. Một thói quen. Gặp người quen mặt thì gật, rồi quên.
Nhưng với bà, nó là cái gì đó.
Đủ để bà nhắc với con gái.
---
Tối đó tôi về nhà. Nấu cơm một mình như mọi tối.
Vợ tôi mất bảy năm rồi. Con trai ở Đà Nẵng, con gái ở Mỹ. Tết về, hè về, còn lại thì gọi điện. Gọi cũng ngắn. Hỏi ba khỏe không, ba ăn uống gì, ba nhớ uống thuốc. Rồi cúp.
Tôi ăn cơm xong, rửa chén, lau bàn. Ngồi ở ban công nhìn xuống.
Tầng bảy nhìn xuống thấy con đường, thấy xe chạy, thấy mấy đứa nhỏ đạp xe ngoài sân. Nghe tiếng người mà không thấy ai nói với mình.
Tôi nghĩ đến bà Hạnh.
Bà sống một mình bao lâu tôi không biết. Có thể lâu hơn tôi. Có thể từ trước khi tôi dọn vào.
Bà chết một mình. Con gái ở xa. Người phát hiện là bảo vệ, vì hai ngày không thấy bà xuống lấy thư.
Hai ngày.
Tôi ở cách bà một bức tường. Hai ngày đó tôi làm gì? Tôi không nhớ. Chắc cũng nấu cơm, cũng ngồi ban công, cũng nghe tiếng xe.
Cách một bức tường mà xa như hai thế giới.
---
Tuần sau, có người dọn đồ ở căn 706. Con gái bà thuê người chở đi.
Tôi đứng ở hành lang nhìn họ khiêng ra mấy thùng. Đồ không nhiều. Một cái giường, một cái tủ nhỏ, mấy thùng sách, mấy chậu cây đã héo.
Có một cái ghế bành cũ, bọc vải hoa, đặt cạnh cửa sổ.
Tôi nghĩ, chắc bà hay ngồi đó. Nhìn ra ngoài. Giống tôi ngồi ban công.
Hai người già, cách nhau một bức tường, cùng nhìn ra ngoài, cùng im lặng.
Mà chưa bao giờ ngồi cùng nhau.
---
Tôi không buồn. Nói buồn thì cũng không đúng.
Tôi chỉ thấy lạ. Sống cạnh nhau mười bốn năm mà không biết nhau. Rồi một người đi, người còn lại mới bắt đầu nghĩ.
Nghĩ mà không biết nghĩ gì.
Không phải tiếc. Không phải ân hận. Chỉ là nhìn thấy một cái gì đó mà trước giờ không thấy.
Cô đơn không phải là không có ai. Cô đơn là có người ngay đó mà mình không với tới. Hoặc không buồn với.
Tôi sáu mươi tám tuổi. Tôi đã sống đủ lâu để biết, người ta không cô đơn vì ở một mình. Người ta cô đơn vì quên mất cách mở cửa.
Cửa nhà mình ấy. Cửa lòng mình ấy.
Nó không khóa. Chỉ là lâu quá không mở, nên tưởng nó đã khóa.
---
Hôm qua tôi gặp ông ở căn 708. Ông ấy dọn vào từ năm ngoái. Tôi gật đầu chào như mọi khi.
Nhưng lần này tôi dừng lại.
Tôi hỏi, anh tên gì.
Ông ấy hơi ngạc nhiên. Rồi cười. Nói, em tên Đức.
Tôi nói, tôi tên Bình. Ở 704.
Chỉ vậy thôi. Hai câu. Rồi ai về nhà nấy.
Nhưng tối đó tôi ngồi ban công, tôi thấy nhẹ hơn một chút.
Một chút thôi. Nhưng mà có.
Vết thương là nơi ánh sáng đi vào bạn.
The wound is the place where the light enters you.
— Rumi, Masnavi
Diễn giải
Interpretation
Rumi nói vết thương là nơi ánh sáng đi vào. Nghe thì đẹp. Nhưng sống thì khác. Ông Bình sống cạnh bà Hạnh mười bốn năm. Không nói chuyện. Không biết tên. Bà chết rồi ông mới biết, cái gật đầu của mình là thứ bà giữ trong lòng. Vết thương ở đây không phải là bà Hạnh mất. Vết thương là mười bốn năm im lặng. Là cánh cửa đóng. Là hai người ngồi cạnh nhau mà không nhìn thấy nhau. Nhưng chính vì bà mất, ông Bình mới tỉnh. Mới nhìn thấy cái khoảng trống mà trước giờ ông tưởng là bình thường. Mới biết cái gật đầu không phải vô nghĩa. Mới hỏi tên người hàng xóm mới. Ánh sáng lọt vào đúng chỗ đau nhất. Không phải để chữa lành. Chỉ để soi cho thấy, cửa vẫn mở được. Nếu mình chịu mở.
Rumi said the wound is where the light enters you. Sounds beautiful. Living it is different. Binh lived next to Mrs. Hanh for fourteen years. Never talked. Never knew her name. She died and only then he learned that his daily nod was something she carried in her heart. The wound here isn't her death. The wound is fourteen years of silence. The closed doors. Two people sitting side by side without seeing each other. But because she passed, Binh woke up. He saw the emptiness he had assumed was normal. He realized a nod wasn't meaningless. He asked his new neighbor's name. The light enters at the most painful spot. Not to heal. Just to show that the door can still be opened. If you're willing to open it.