Ông thợ mộc cuối xóm không ai thuê
The Carpenter at the End of the Alley No One Hired
Xóm tôi có ông Tám thợ mộc.
Ổng làm nghề từ hồi mười bảy. Bàn tay chai sần, móng tay lúc nào cũng vàng khè vì dầu bóng. Đồ ổng đóng thì chắc. Cái tủ nhà tôi ổng đóng năm tám mươi bảy, tới giờ vẫn dùng. Mối không ăn. Ngăn kéo kéo ra vô êm ru.
Nhưng ổng không giàu.
Không giàu vì ổng không biết nói.
Hồi đó xóm có thằng Phước, cũng làm mộc. Phước trẻ hơn ổng hai mươi tuổi. Tay nghề thường thường. Nhưng Phước biết chụp hình đăng Facebook. Biết ghi "phong cách Nhật Bản", "gỗ sồi nhập khẩu". Biết mặc áo sơ mi trắng đi giao hàng.
Khách đến nhà Phước đông. Xưởng Phước mở rộng. Phước thuê thêm bốn thợ.
Ổng Tám thì vẫn ngồi một mình trong cái xưởng nhỏ cuối xóm. Cưa tay. Bào tay. Chậm rì.
Con gái ổng nói, ba ơi, ba phải làm cái bảng hiệu đi. Ba phải chụp hình sản phẩm đi. Ba phải lên mạng đi. Thời buổi này ai mà biết ba.
Ổng cười. Nói, ai cần thì tới.
Con gái ổng bực. Nói, ba cứ vậy hoài rồi ai tới.
Ổng im.
Tôi biết ổng Tám vì tôi mua cái kệ sách. Hồi đó tôi mới về hưu, muốn có cái kệ để mấy cuốn sách cũ. Đi hỏi mấy tiệm ngoài đường, thấy đẹp nhưng giá cao, mà sờ vào thấy gỗ mỏng, ép lại, sơn phủ bên ngoài.
Hàng xóm chỉ tôi qua ổng Tám.
Tôi vô xưởng ổng. Xưởng bề bộn. Mùn cưa đầy sàn. Không bảng hiệu. Không catalogue. Ổng đang ngồi mài cái đục.
Tôi nói, tôi cần cái kệ sách, cao chừng một mét tám, rộng chừng một mét hai.
Ổng hỏi, sách nhiều không. Sách nặng không. Để trong phòng nào. Phòng đó có ẩm không.
Tôi ngạc nhiên. Mấy tiệm kia hỏi tôi muốn màu gì, kiểu gì. Ổng hỏi phòng có ẩm không.
Ổng nói, gỗ sợ ẩm. Nếu phòng ẩm thì phải chọn loại khác. Xử lý khác. Lâu hơn.
Tôi nói, phòng tôi hơi ẩm.
Ổng gật đầu. Nói, vậy để tôi làm. Hai tuần.
Hai tuần sau ổng giao. Cái kệ trông bình thường. Không sơn bóng loáng. Không có hoa văn. Gỗ để mộc, chỉ phủ một lớp dầu mỏng.
Nhưng tôi sờ vào thì biết.
Các mộng gỗ khít. Không thấy đinh. Mặt gỗ mịn nhưng không trơn. Kệ đứng vững, không cần tựa tường.
Tôi hỏi giá. Ổng nói một con số. Tôi tưởng nghe lộn. Rẻ hơn mấy tiệm ngoài đường phân nửa.
Tôi nói, sao rẻ vậy anh Tám.
Ổng nói, tôi tính công tôi thôi. Gỗ bao nhiêu tính bấy nhiêu. Tôi không tính thêm.
Tôi trả tiền. Rồi ngồi lại uống trà với ổng.
Ổng kể, hồi trẻ ổng cũng muốn mở xưởng lớn. Cũng muốn có tiếng. Cũng muốn người ta nhắc tên mình. Ổng đi Sài Gòn học thêm. Đi Bình Dương coi xưởng người ta. Về mở xưởng, thuê thợ.
Rồi ổng thấy một chuyện.
Khi xưởng lớn, ổng không còn đóng đồ nữa. Ổng ngồi tính tiền. Ngồi tiếp khách. Ngồi lo thợ nghỉ, thợ làm ẩu. Tay ổng không còn cầm đục.
Ổng nói, tôi nhớ cái cảm giác bào một miếng gỗ cho phẳng. Cái tiếng sột soạt. Mùi gỗ mới. Tôi mở xưởng lớn mà tôi mất cái đó.
Rồi ổng đóng xưởng lớn. Về lại cái xưởng nhỏ cuối xóm. Một mình.
Hàng xóm nói ổng thất bại. Vợ ổng hồi đó cũng buồn. Con gái ổng lớn lên cũng không hiểu.
Ổng không giải thích.
Ổng nói với tôi, giải thích chi. Ai hiểu thì hiểu. Ai không hiểu thì mình giải thích cũng vậy.
Tôi uống trà. Nhìn cái xưởng nhỏ. Mùn cưa. Mấy cái đục treo trên vách. Cái bào gỗ cũ.
Tôi nghĩ tới mấy chục năm mình đi làm. Cũng chạy. Cũng muốn người ta biết tên mình. Cũng muốn cái danh thiếp dày, cái chức vụ dài. Rồi về hưu, người ta quên mình nhanh lắm. Cái tên mình biến mất khỏi email công ty trong một buổi chiều.
Ổng Tám không có cái tên để mất. Ổng chỉ có cái xưởng nhỏ và đôi tay.
Mà ổng không mất gì hết.
Mấy tháng sau tôi quay lại. Nhờ ổng đóng cái bàn nhỏ để ngoài hiên. Lần này tôi ngồi coi ổng làm.
Ổng đo. Cắt. Bào. Mài. Chậm. Từng động tác chính xác. Không thừa. Không thiếu.
Ổng không nói gì. Tôi cũng không nói gì.
Cái bàn xong. Ổng vuốt mặt gỗ một lần. Rồi giao tôi.
Tôi hỏi, anh Tám, anh có bao giờ tiếc không. Tiếc hồi đó đóng xưởng lớn.
Ổng nhìn tôi. Cười.
Nói, tiếc gì. Hồi đó tôi tưởng mở xưởng lớn là giỏi. Bây giờ tôi biết đóng được cái tủ cho người ta xài ba mươi năm, đó mới là giỏi. Nhưng cái giỏi đó nhìn không ra. Người ta thấy cái xưởng nhỏ, thấy ông già ngồi cưa tay, người ta nghĩ ổng dở.
Ổng dừng. Uống ngụm trà.
Nói thêm, mà dở thiệt cũng được. Tôi không cần ai biết tôi giỏi.
Tôi mang cái bàn về. Để ngoài hiên. Mỗi sáng ngồi uống cà phê trên đó.
Mưa nắng mấy năm rồi. Cái bàn vẫn vậy.
Ổng Tám năm ngoái mất. Bảy mươi tám tuổi. Xưởng đóng cửa. Mấy cái đục, cái bào, con gái ổng dọn đi đâu tôi không biết.
Không ai viết bài về ổng. Không ai đăng lên mạng. Xóm mất đi một ông thợ mộc, vậy thôi.
Nhưng cái kệ sách nhà tôi vẫn đứng đó. Cái bàn ngoài hiên vẫn đứng đó.
Tôi ngồi uống cà phê. Sờ mặt gỗ. Mịn.
Nghĩ, cả đời mình chạy theo cái tên. Ổng Tám bỏ cái tên, giữ lại đôi tay.
Ai sống thiệt hơn ai.
大直若屈,大巧若拙,大辯若訥
Đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nột
Thẳng lớn như cong, khéo lớn như vụng, hùng biện lớn như ấp úng.
Great straightness seems crooked; great skill seems clumsy; great eloquence seems stammering.
— Lão Tử, Đạo Đức Kinh, Chương 45
Diễn giải
Interpretation
Lão Tử nói, cái thẳng thật sự trông như cong. Cái khéo thật sự trông như vụng. Cái hùng biện thật sự trông như ấp úng. Ổng Tám là vậy. Ổng đóng đồ giỏi nhất xóm mà trông như ông thợ dở nhất xóm. Xưởng nhỏ, không bảng hiệu, không quảng cáo. Ai đi ngang cũng nghĩ ổng hết thời. Nhưng cái tủ ổng đóng thì ba mươi năm không hư. Cái bàn ổng đóng thì mưa nắng mấy năm vẫn vậy. Cái giỏi thiệt nó không cần khoe. Nó nằm trong mộng gỗ, trong mặt gỗ mịn, trong cái ngăn kéo kéo ra vô không kêu. Đời mình cứ sợ người ta thấy mình dở. Sợ người ta không biết mình giỏi. Nên cứ phải trưng, phải nói, phải chứng minh. Ổng Tám không trưng gì hết. Ổng chỉ làm. Rồi đồ ổng làm tự nói thay ổng. Cái khéo trông như vụng. Mà cái vụng đó, sờ vào mới biết.
Laozi said, the greatest straightness looks crooked. The greatest skill looks clumsy. The greatest eloquence sounds like stammering. Old Tam was exactly that. He was the best carpenter in the alley but looked like the worst. Small workshop, no sign, no advertising. Anyone walking by would think he was washed up. But the wardrobe he built lasted thirty years without breaking. The table he built endured years of rain and sun unchanged. Real skill doesn't need to announce itself. It lives in the tight joints, in the smooth wood surface, in the drawer that slides without a sound. We spend our lives afraid people will see us as incompetent. Afraid no one will know we're good at what we do. So we keep displaying, keep talking, keep proving. Old Tam displayed nothing. He just worked. And the things he made spoke for him. The greatest skill looks clumsy. But that clumsiness, you have to touch it to know.