Bà tôi tưới cây mỗi sáng lúc năm giờ
My Grandmother Waters Her Plants at Five Every Morning
Bà tôi bảy mươi tư tuổi.
Mỗi sáng, bà dậy lúc năm giờ. Không cần đồng hồ báo thức. Cái đồng hồ sinh học trong người bà chính xác hơn bất kỳ cái máy nào.
Bà xuống cầu thang, rửa mặt, pha một bình trà nhỏ. Rồi bà ra sân.
Sân nhà bà không rộng. Một khoảng xi măng cũ, mấy chậu cây xếp dọc tường. Vài chậu bông giấy, một cây chanh, hai chậu húng, một chậu ớt.
Bà tưới từng chậu. Không vội. Bà nhìn từng cái lá, sờ đất xem khô hay ướt, nhổ mấy cọng cỏ dại mọc chen vào.
Tôi hỏi bà, sao phải dậy sớm vậy?
Bà nói, không phải phải. Tao thích.
Tôi hỏi tiếp, thích gì ở mấy cái chậu cây?
Bà nhìn tôi như nhìn đứa hỏi chuyện lạ. Rồi bà cười. Thích thì thích. Hỏi gì kỳ vậy.
Hồi tôi còn nhỏ, bà bận lắm. Bà bán xôi ngoài chợ. Mỗi ngày bà dậy từ ba giờ sáng, nấu xôi, gánh ra chợ, bán đến trưa mới về. Chiều bà ngâm nếp, chuẩn bị cho hôm sau. Vòng lặp đó kéo dài hơn ba mươi năm.
Ba mươi năm. Tôi nghĩ về con số đó mà thấy chóng mặt.
Bà nuôi bốn đứa con. Ông mất sớm. Bà một mình. Gánh xôi nặng, đường chợ xa, trời mưa hay nắng bà đều đi. Không ai hỏi bà có mệt không. Không ai hỏi bà có muốn nghỉ không. Bà cũng không hỏi mình.
Đến khi các con lớn, ra riêng, bà nghỉ bán. Cái gánh xôi để góc bếp, lâu ngày mối ăn mất một bên đòn gánh.
Những năm đầu nghỉ, bà hay ngồi trước nhà nhìn ra đường. Không làm gì. Mắt bà nhìn xa, như đang tìm cái gì đó mà bà không gọi tên được.
Tôi hỏi má tôi, bà sao vậy?
Má nói, bà buồn. Quen làm rồi, giờ không làm gì thì buồn.
Rồi một ngày, bà mua mấy cái chậu. Xin đất ở đâu đó đổ vào. Trồng mấy cây húng, cây ớt. Tưới mỗi sáng.
Ban đầu cây chết nhiều hơn sống. Bà không nản. Bà mua chậu mới, trồng lại. Hỏi hàng xóm cách bón phân. Lên chợ mua đất trộn sẵn.
Dần dần, sân nhà bà xanh lên.
Tôi để ý một chuyện. Từ ngày bà có mấy chậu cây, bà không còn ngồi nhìn ra đường nữa. Buổi sáng bà tưới cây. Buổi chiều bà ngồi ngoài sân, uống trà, nhìn mấy cái chậu. Thỉnh thoảng bà nói chuyện với cây. Tôi nghe được mấy câu, kiểu như "mày héo gì vậy" hay "ráng lên, nắng mai sẽ dịu".
Tôi ba mươi tuổi, đang chạy. Chạy theo dự án, chạy theo deadline, chạy theo cái hình dung về một cuộc đời thành công mà tôi cũng không rõ ai vẽ ra.
Mỗi lần về thăm bà, tôi thấy bà chậm. Chậm đến mức tôi sốt ruột. Bà rót trà cũng chậm. Bà kể chuyện cũng chậm. Bà đi từ nhà ra sân cũng chậm.
Nhưng bà không vội. Bà không có gì phải vội.
Một lần tôi ngồi uống trà với bà lúc sáng sớm. Trời còn mờ. Bà tưới xong mấy chậu cây, ngồi xuống cái ghế nhựa cũ, bưng ly trà lên.
Bà nói, hồi bà bán xôi, bà cứ nghĩ khi nào nghỉ rồi bà sẽ sướng. Nghỉ rồi mới biết, sướng đâu không thấy, chỉ thấy trống.
Tôi hỏi, rồi bây giờ bà thấy sao?
Bà nhìn mấy chậu cây. Bà nói, bây giờ bà không nghĩ chuyện sướng hay khổ nữa. Sáng dậy, tưới cây, uống trà. Vậy là đủ.
Tôi không nói gì.
Bà uống trà. Tôi cũng uống.
Trời sáng dần. Mấy cái lá bông giấy bắt nắng, hồng lên.
Tôi nhìn bà. Bà bảy mươi tư tuổi, lưng còng, tay run, mắt mờ. Nhưng bà ngồi đó, yên, như cái cây bà trồng. Không cần ai nhìn. Không cần ai khen. Không cần đi đâu.
Tôi nghĩ về mình. Tôi chạy hoài. Tôi nghĩ khi nào đạt được cái này, cái kia, thì tôi sẽ bình yên. Khi nào lương cao hơn. Khi nào mua được nhà. Khi nào thăng chức.
Nhưng bà tôi bán xôi ba mươi năm cũng nghĩ y vậy. Khi nào nghỉ rồi sẽ sướng. Nghỉ rồi thì trống.
Cái bình yên của bà không đến từ việc nghỉ ngơi. Nó đến từ mấy chậu cây. Từ việc sáng dậy có một chuyện nhỏ để làm. Từ việc nhìn cái lá xanh lên mỗi ngày.
Không phải đợi đến đâu mới được bình yên.
Bà tôi không đọc sách. Không biết triết học. Không biết thiền.
Nhưng mỗi sáng lúc năm giờ, bà đứng ngoài sân, tưới mấy chậu cây, và bà ở đó. Thật sự ở đó.
Tôi ba mươi tuổi, ngồi cạnh bà, mà lần đầu tiên tôi thấy mình cũng ở đó.
Không có con đường dẫn đến hạnh phúc. Hạnh phúc là con đường.
There is no way to happiness. Happiness is the way.
— Thích Nhất Hạnh, The Heart of the Buddha's Teaching
Diễn giải
Interpretation
Bà tôi bán xôi ba mươi năm, nghĩ nghỉ rồi sẽ sướng. Nghỉ rồi thì trống. Bà đi tìm hạnh phúc ở cuối đường mà không thấy. Rồi bà trồng mấy chậu cây. Không phải vì bà tìm ra đáp án gì to tát. Chỉ là bà có một chuyện nhỏ để làm mỗi sáng. Tưới cây, uống trà, nhìn lá xanh. Vậy thôi. Mà vậy là đủ. Thích Nhất Hạnh nói hạnh phúc không nằm ở cuối con đường. Hạnh phúc là con đường. Nghe thì đơn giản. Nhưng phải đi hết ba mươi năm gánh xôi, rồi ngồi trống mấy năm, rồi mới hiểu. Bà tôi không biết câu này. Nhưng bà sống đúng câu này. Mỗi sáng lúc năm giờ, bà không đi tìm hạnh phúc. Bà đứng giữa nó mà không cần gọi tên.
My grandmother sold sticky rice for thirty years, thinking she'd be happy once she stopped. She stopped, and found only emptiness. She looked for happiness at the end of the road and couldn't find it. Then she started growing a few pots of plants. Not because she found some grand answer. Just because she had one small thing to do each morning. Water the plants, drink tea, watch the leaves turn green. That's it. And that was enough. Thich Nhat Hanh said happiness is not at the end of the path. Happiness is the path. Sounds simple. But you have to walk thirty years carrying sticky rice, then sit empty for a few more years, before you understand. My grandmother never heard this quote. But she lived it. Every morning at five, she wasn't searching for happiness. She was standing in the middle of it without needing to name it.