Bài điếu văn tôi viết rồi xóa bảy lần
The Eulogy I Wrote and Deleted Seven Times
Anh Tư mất hồi tháng ba.
Bảy mươi mốt tuổi. Ung thư phổi. Từ lúc phát hiện tới lúc đi, chưa đầy bốn tháng.
Gia đình nhờ tôi viết điếu văn. Tôi là em út, nhưng trong nhà ai cũng biết tôi viết được. Hồi trẻ tôi làm báo. Về hưu rồi vẫn hay viết lách linh tinh. Mấy đứa cháu bảo chú viết hay lắm.
Tôi nhận lời. Nghĩ dễ thôi.
Ngồi xuống bàn, mở tờ giấy trắng ra.
Viết dòng đầu tiên: "Anh Tư là người anh cả mẫu mực, là trụ cột của gia đình."
Đọc lại. Xóa.
Anh Tư không mẫu mực. Anh Tư đánh vợ. Hồi thập niên tám mươi, chị Tư bị anh đánh bầm mặt mấy lần. Cả nhà biết. Không ai nói.
Viết lại: "Anh Tư là người đã hy sinh cả đời cho gia đình."
Đọc lại. Xóa.
Anh Tư không hy sinh. Anh Tư bỏ nhà đi Sài Gòn ba năm theo bà bán vải ngoài chợ. Chị Tư ở nhà nuôi bốn đứa con. Má tôi phải bán đất phụ.
Viết lại: "Anh Tư là người có nhiều kỷ niệm đẹp với chúng tôi."
Đọc lại. Ngồi nhìn câu đó lâu lắm.
Kỷ niệm đẹp thì có. Anh dắt tôi đi câu cá hồi tôi bảy tuổi. Anh mua cho tôi đôi dép mới ngày khai giảng. Anh cõng tôi chạy mưa trên con đê ngoài đồng.
Nhưng anh cũng là người lấy hết tiền ba để lại, không chia cho ai. Anh cũng là người cấm chị Hai về nhà chồng vì "mất mặt dòng họ". Anh cũng là người mắng tôi trước mặt cả đám giỗ vì tôi viết bài báo nói xấu chính quyền địa phương.
Tôi ngồi đó, viết rồi xóa. Xóa rồi viết.
Lần thứ tư, tôi thử viết thật: "Anh Tư là người phức tạp. Anh có lúc tốt, có lúc tệ. Anh yêu thương theo cách của anh, dù cách đó nhiều khi làm đau người khác."
Đọc lại. Thấy đúng. Nhưng biết không đọc được.
Đám tang mà đọc vậy, chị Tư khóc. Mấy đứa con anh giận. Bà con chòm xóm xì xào. Người ta sẽ nói tôi bất hiếu, bất nghĩa, em mà nói anh như vậy.
Lần thứ năm, tôi viết một bản dài. Kể hết. Kể chuyện anh đánh chị Tư. Kể chuyện anh bỏ đi. Kể chuyện anh lấy tiền ba. Nhưng cũng kể chuyện anh cõng tôi chạy mưa. Kể chuyện anh ngồi khóc một mình đêm ba mất. Kể chuyện anh về nhà sau ba năm, đứng ngoài cổng không dám vô, chị Tư ra mở cửa không nói gì.
Bản đó dài bốn trang. Tôi đọc đi đọc lại. Thấy nó giống anh Tư thật. Một con người thật.
Rồi tôi xóa.
Lần thứ sáu, tôi viết ngắn lại. Bỏ hết chuyện xấu. Giữ lại mấy câu đẹp. Thêm vài câu sáo rỗng. "Anh ra đi để lại niềm thương tiếc." "Anh mãi trong lòng chúng tôi."
Đọc lại. Thấy ghê. Thấy giả. Thấy giống mấy bài điếu văn tôi nghe cả đời, bài nào cũng giống bài nào. Người nào chết cũng thành thánh.
Tôi xóa.
Lần thứ bảy, tôi không viết gì. Ngồi nhìn tờ giấy trắng. Uống trà. Ra sân ngồi.
Trời tháng ba, nắng nhẹ. Gió thổi qua mấy cây bông giấy trước nhà.
Tôi nghĩ về anh Tư. Không phải anh Tư trong điếu văn. Anh Tư thật.
Anh Tư hay ăn cơm chan nước mắm không. Anh Tư ngủ trưa hay ngáy. Anh Tư sợ thằn lằn mà không bao giờ nhận. Anh Tư mỗi lần giận thì im, không nói, im cả tuần, cả nhà đi nhẹ nói khẽ.
Anh Tư là anh tôi. Không tốt không xấu. Chỉ là anh tôi.
Sáng hôm sau, tôi viết bản cuối cùng. Bản thứ tám.
Ngắn thôi. Không kể chuyện xấu. Cũng không tô vẽ. Chỉ kể mấy chuyện nhỏ. Chuyện anh cõng tôi chạy mưa. Chuyện anh hay ăn cơm chan nước mắm. Chuyện anh ngồi ngoài hiên mỗi chiều nhìn ra đồng.
Rồi kết bằng một câu: "Anh Tư sống bảy mươi mốt năm. Vậy là đủ."
Đọc ở đám tang, mấy người khóc. Chị Tư khóc. Mấy đứa con anh khóc.
Không ai hỏi sao không nói nhiều hơn.
Có lẽ ai cũng biết. Nói nhiều hơn thì phải nói dối. Mà nói dối trước mặt người chết thì nặng lắm.
Đám tang xong, tôi về nhà. Lấy bản thứ năm ra đọc lại. Bản bốn trang. Bản thật nhất.
Đọc xong, tôi gấp lại, bỏ vô ngăn kéo.
Không xóa. Cũng không cho ai đọc.
Nó nằm đó. Giống như anh Tư thật nằm đó. Không ai thấy, nhưng có.
Sáu mươi bảy tuổi, tôi mới hiểu một chuyện.
Cả đời mình, từ hồi làm báo tới giờ, tôi viết bao nhiêu thứ. Bài nào cũng cố cho hay, cho đẹp, cho người ta đọc xong gật đầu. Tôi được khen viết giỏi. Được giải. Được người ta nhớ tên.
Nhưng bài thật nhất tôi từng viết, nằm trong ngăn kéo.
Không ai đọc. Không ai khen.
Mà nó là bài duy nhất tôi không xấu hổ.
信言不美,美言不信
Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín
Lời thật thì không đẹp, lời đẹp thì không thật.
Truthful words are not beautiful; beautiful words are not truthful.
— Lão Tử, Đạo Đức Kinh, Chương 81
Diễn giải
Interpretation
Lão Tử nói, lời thật thì không đẹp, lời đẹp thì không thật. Nghe đơn giản. Nhưng sống với nó thì khó. Cả đời mình viết. Viết cho người ta đọc, cho người ta khen, cho người ta nhớ. Mỗi câu đều gọt, đều đẽo, đều chọn từ nào nghe hay nhất. Lời đẹp. Người ta vỗ tay. Rồi đến lúc phải viết về một người thật. Mới thấy, lời đẹp không chứa nổi một con người. Bản điếu văn đọc ở đám tang, nghe được. Mọi người khóc. Nhưng nó không phải anh Tư. Bản bốn trang trong ngăn kéo, không ai nghe. Nhưng nó là anh Tư. Lời thật nó vậy. Nó không lên sân khấu được. Nó không vừa micro. Nó xù xì, nó có chỗ xấu, chỗ đau, chỗ không ai muốn nhìn. Nhưng nó thật. Còn mấy bài được giải, được khen, được nhớ tên. Đẹp thì đẹp. Mà đêm nằm nghĩ lại, nó nhẹ hều. Gió thổi là bay.
Laozi said, truthful words are not beautiful, beautiful words are not truthful. Sounds simple. Living with it is the hard part. A whole life of writing. Writing for people to read, to praise, to remember. Every sentence polished, carved, every word chosen for how good it sounds. Beautiful words. People applaud. Then comes the moment you have to write about a real person. And you realize beautiful words can't hold a human being. The eulogy read at the funeral sounded fine. People cried. But it wasn't Brother Tu. The four-page version in the drawer, nobody heard it. But that was Brother Tu. That's how truthful words work. They don't belong on stage. They don't fit a microphone. They're rough, they have ugly parts, painful parts, parts nobody wants to look at. But they're real. And those award-winning pieces, the praised ones, the ones people remember your name for. Beautiful, sure. But lying awake at night thinking about them, they feel weightless. One gust of wind and they're gone.