Bảy mươi tuổi tôi mới biết mình sợ cái gì
At Seventy I Finally Knew What I Was Afraid Of
Tôi sợ ma từ nhỏ.
Hồi sáu tuổi, bà nội hay kể chuyện ma trơi ngoài đồng. Tôi nằm cuộn trong mùng, bịt tai, mà vẫn nghe. Bà kể giọng đều đều, không hù dọa gì, nhưng tôi sợ đến run. Sáng hôm sau tỉnh dậy, nắng chan hòa, tôi quên hết. Rồi tối lại sợ.
Lớn lên một chút, tôi sợ ba.
Ba tôi không đánh. Không chửi. Ổng chỉ im. Im lặng kiểu nhìn mình một cái rồi quay đi. Cái nhìn đó nặng hơn roi. Tôi không biết mình làm sai gì, nhưng lúc nào cũng thấy mình sai. Đi học về, mở cửa, nghe tiếng dép ba ở phòng khách là bụng tôi thắt lại.
Tôi nghĩ lớn lên sẽ hết sợ.
Mười tám tuổi đi lính. Tưởng sợ chết. Nhưng không. Ở chiến trường, cái sợ nó rõ ràng. Nghe tiếng pháo thì nằm xuống. Thấy nguy thì chạy. Sợ có hình dạng, có hướng, có cách đối phó. Tôi thấy mình bình tĩnh hơn nhiều người. Có lúc còn tưởng mình dũng cảm.
Giải ngũ về, lấy vợ, sinh con.
Vợ tôi tên Hạnh. Người nhỏ, ít nói, hay cười. Cưới nhau xong tôi đi làm công nhân, bả ở nhà giữ con. Cuộc sống bình thường. Không giàu, không nghèo. Đủ ăn. Con đi học đàng hoàng.
Nhưng tôi bắt đầu sợ một thứ mới.
Tôi sợ vợ buồn.
Không phải sợ bả giận. Giận thì còn nói, còn la, còn biết chuyện gì. Tôi sợ bả buồn mà im. Buồn kiểu ngồi ngoài hiên, nhìn ra đường, không nói gì. Tôi hỏi sao, bả nói không có gì. Mà mắt thì đỏ.
Tôi không biết làm gì với cái buồn của người khác.
Thành ra tôi tránh. Đi làm sớm hơn. Về muộn hơn. Cuối tuần kiếm cớ đi uống cà phê với bạn. Không phải tôi không thương. Tôi thương. Nhưng tôi sợ.
Sợ mình không đủ.
Sợ mình nhìn vào mắt bả mà không có gì để đưa ra. Không lời nào đúng. Không hành động nào đủ. Sợ cái khoảnh khắc mình đứng trước người mình thương mà thấy mình rỗng.
Con gái lớn lên, đi Sài Gòn học.
Nó giống bả. Ít nói. Hay cười. Nhưng có lần nó gọi về, giọng run run, nói ba ơi con sợ. Tôi hỏi sợ gì. Nó nói con không biết. Con chỉ sợ.
Tôi nghe mà lặng người.
Vì tôi hiểu câu đó. Hiểu từ trong xương.
Sợ mà không biết sợ gì. Đó mới là cái sợ thật.
Sợ ma thì lớn lên hết. Sợ ba thì ba mất cũng hết. Sợ chết thì qua chiến trường rồi cũng quen. Nhưng sợ mà không có hình dạng, không có tên, không biết nó ở đâu. Cái đó theo mình suốt đời.
Vợ tôi mất năm bả sáu mươi ba.
Ung thư. Phát hiện trễ. Từ lúc biết đến lúc mất, bốn tháng.
Bốn tháng đó tôi ở bên bả mỗi ngày. Lần đầu tiên trong mấy chục năm, tôi không tránh. Không đi đâu. Ngồi cạnh giường, nắm tay, im.
Bả nói, ông sợ hả.
Tôi nói sợ.
Bả cười. Nói, tui cũng sợ. Nhưng có ông đây thì đỡ.
Đó là lần đầu tiên tôi nói ra cái sợ của mình. Bảy mươi năm trên đời. Lần đầu.
Sau bả mất, tôi sống một mình.
Con gái kêu lên Sài Gòn ở chung. Tôi không chịu. Không phải cố chấp. Tôi cần ở một mình để hiểu.
Mỗi tối tôi ngồi ngoài hiên. Cái hiên bả hay ngồi. Nhìn ra đường. Không nghĩ gì nhiều.
Rồi tôi thấy.
Cái sợ của tôi suốt đời, không phải sợ ma, sợ ba, sợ chết, sợ vợ buồn. Cái sợ thật, cái nằm dưới tất cả, là sợ mình không đủ tốt để được thương.
Sợ mình đứng trước người ta mà người ta thấy thất vọng.
Sợ mình mở lòng ra mà bên trong trống.
Tôi sợ cái đó từ hồi sáu tuổi, nằm trong mùng, nghe bà kể chuyện ma. Không phải sợ ma. Sợ bóng tối. Mà cũng không phải sợ bóng tối. Sợ ở một mình trong bóng tối, không ai tới.
Bảy mươi tuổi mới nhìn ra.
Muộn không? Có lẽ. Mà cũng có lẽ không.
Vì bả nằm đó, nắm tay tôi, nói có ông đây thì đỡ. Nghĩa là bả không cần tôi đủ tốt. Bả chỉ cần tôi ở đó.
Mà tôi thì mất mấy chục năm để hiểu rằng ở đó, chỉ ở đó thôi, đã là đủ.
Tối nay tôi lại ngồi ngoài hiên.
Gió mát. Đường vắng.
Tôi không sợ nữa.
Hay đúng hơn, tôi vẫn sợ. Nhưng tôi không chạy.