Bốn mươi năm đi làm, tôi mang về nhà được gì
Forty Years of Work, What Did I Bring Home
Tôi nghỉ hưu tháng ba năm ngoái.
Buổi sáng cuối cùng ở cơ quan, tôi ngồi trong phòng làm việc từ sáu giờ. Sớm hơn mọi người hai tiếng. Như bốn mươi năm qua tôi vẫn vậy.
Cái bàn gỗ đã thay ba lần. Cái ghế thay nhiều hơn. Nhưng chỗ ngồi thì vẫn cạnh cửa sổ, nhìn ra hàng cây bàng ngoài sân. Hồi mới vào, cây bàng mới trồng, cao ngang vai tôi. Bây giờ nó che hết tầng hai.
Tôi nhìn cái bàn. Sạch. Đã dọn hết từ hôm qua. Bốn mươi năm giấy tờ, hồ sơ, công văn. Bốn mươi năm chữ ký. Bốn mươi năm họp hành, báo cáo, kế hoạch quý, kế hoạch năm. Dọn hết chỉ mất một buổi chiều.
Một buổi chiều.
---
Năm hai mươi ba tuổi, tôi ra trường, được phân về cơ quan này. Hồi đó ai cũng muốn vào nhà nước. Ổn định. Có biên chế. Ba tôi mừng lắm. Ông nói: "Con cố mà phấn đấu."
Tôi phấn đấu.
Năm hai mươi tám, tôi được kết nạp Đảng. Ba tôi khóc. Ông nói đó là ngày vui nhất đời ông.
Năm ba mươi hai, tôi lên phó phòng. Năm ba mươi bảy, trưởng phòng. Năm bốn mươi tư, phó giám đốc. Mỗi lần lên chức, bạn bè đến chúc mừng. Vợ tôi nấu mâm cơm. Con tôi chưa hiểu gì, chỉ thấy nhà đông khách thì vui.
Tôi nhớ mỗi lần nhận quyết định, tôi đều nghĩ: "Bước tiếp theo là gì?"
Chưa bao giờ tôi dừng lại ở bước mình đang đứng.
---
Năm bốn mươi tám, tôi suýt lên giám đốc. Suýt thôi.
Có người khác được chọn. Người đó trẻ hơn tôi sáu tuổi. Quan hệ rộng hơn. Tôi không nói gì. Về nhà, vợ hỏi, tôi bảo không sao. Nhưng đêm đó tôi nằm đến ba giờ sáng không ngủ được.
Tôi nghĩ mình đã làm đúng mọi thứ. Đi sớm về muộn. Không tham ô. Không kéo bè kéo cánh. Báo cáo nào cũng đúng hạn. Cấp trên giao gì làm nấy.
Mà vẫn không đủ.
Cái đêm đó, lần đầu tiên tôi tự hỏi: mình đang chơi cái trò gì?
Nhưng sáng hôm sau tôi vẫn dậy lúc năm giờ. Vẫn đi làm. Vẫn ngồi vào bàn.
Vì tôi biết làm gì khác đâu.
---
Những năm sau đó, tôi vẫn là phó giám đốc. Người ta gọi tôi là "anh Hùng phó". Rồi "chú Hùng phó". Rồi "bác Hùng".
Cái chức phó đó theo tôi mười lăm năm. Tôi quen với nó. Quen đến mức quên mất hồi xưa mình từng muốn gì.
Hồi mới ra trường, tôi thích viết. Viết báo, viết phóng sự. Tôi từng gửi bài cho mấy tờ báo địa phương. Có bài được đăng. Tôi cắt ra, dán vào sổ. Cái sổ đó bây giờ ở đâu tôi cũng không nhớ.
Rồi công việc hành chính nuốt hết. Họp. Ký. Duyệt. Báo cáo. Tiếp khách. Đi công tác. Về viết báo cáo công tác. Rồi lại họp.
Tôi không nhớ lúc nào mình ngừng viết. Nó không phải một ngày cụ thể. Nó là một nghìn ngày giống nhau, cho đến khi cái thích đó biến mất mà tôi không hay.
---
Con trai tôi năm nay ba mươi mốt. Nó làm công ty tư nhân. Lương cao hơn tôi hồi đỉnh điểm. Nó hay nói về "đam mê", về "giá trị bản thân", về "work-life balance".
Tôi nghe, không nói gì.
Không phải vì tôi không hiểu. Mà vì tôi hiểu quá.
Thời tôi không có cái từ "đam mê" trong công việc. Chỉ có "nhiệm vụ". Chỉ có "tổ chức phân công". Chỉ có "cống hiến".
Tôi cống hiến bốn mươi năm. Tôi không hối hận. Nhưng tôi cũng không biết gọi cái đó là gì. Có phải sự nghiệp không? Hay chỉ là quán tính?
Một người đi bộ bốn mươi năm trên cùng một con đường. Đến cuối đường, anh ta quay lại nhìn. Đường vẫn đó. Dấu chân thì mưa đã xoá hết.
---
Buổi liên hoan chia tay, mọi người tặng tôi bức tranh thêu chữ "Phúc". Giám đốc mới phát biểu, nói tôi là "cây đại thụ của cơ quan". Mọi người vỗ tay.
Tôi cảm ơn. Tôi cười. Tôi bắt tay từng người.
Rồi tôi lái xe về nhà. Trên đường về, tôi tắt đài. Không nghe gì hết. Chỉ nghe tiếng máy xe.
Về đến nhà, vợ tôi hỏi: "Vui không?"
Tôi nói: "Vui."
Rồi tôi vào phòng, ngồi xuống giường. Nhìn hai bàn tay.
Bốn mươi năm. Hai bàn tay này đã ký bao nhiêu giấy. Đã bắt bao nhiêu cái tay. Đã giơ lên bao nhiêu lần biểu quyết.
Bây giờ chúng rảnh rỗi. Và tôi không biết để chúng ở đâu.
---
Mấy tháng sau nghỉ hưu, tôi bắt đầu đi bộ buổi sáng. Không phải vì sức khoẻ. Mà vì không biết làm gì.
Tôi đi qua công viên. Thấy mấy ông bà tập dưỡng sinh. Thấy mấy người bán xôi. Thấy mấy đứa nhỏ đi học sớm.
Một buổi sáng, tôi ngồi trên ghế đá, thấy một ông già đang vẽ. Ông ấy vẽ cái cây bàng trước mặt. Vẽ bằng bút chì, trên giấy A4 thường.
Tôi ngồi xem. Ông ấy vẽ chậm lắm. Từng nét một.
Tôi hỏi: "Bác vẽ đẹp quá. Bác làm hoạ sĩ hả?"
Ông ấy cười: "Không. Tôi làm kế toán. Nghỉ hưu rồi mới học vẽ. Được ba năm."
"Sao bác học vẽ?"
"Hồi nhỏ tôi thích vẽ. Rồi đi làm, quên mất. Nghỉ hưu, ngồi không, tự nhiên nhớ lại."
Tôi nhìn ông ấy vẽ. Nhìn lâu lắm. Rồi tôi đứng dậy đi về.
Trên đường về, tôi nghĩ đến cái sổ dán bài báo ngày xưa.
---
Tối đó, tôi lục tủ. Tìm mãi, thấy cái sổ ở dưới đáy, dưới mấy chồng giấy khen đã ố vàng.
Tôi mở ra. Giấy báo cũ, chữ mờ. Nhưng vẫn đọc được. Bài phóng sự đầu tiên tôi viết, năm hai mươi bốn tuổi. Về một bà cụ bán nước chè ở đầu ngõ.
Tôi đọc lại. Viết ngây ngô. Câu dài quá. Tả nhiều quá. Nhưng có cái gì đó ở trong. Cái gì đó mà bốn mươi năm công văn không có.
Tôi ngồi đọc đến khuya.
Vợ tôi đi ngang, thấy tôi ngồi với cái sổ cũ, hỏi: "Ông đọc gì đấy?"
Tôi nói: "Đọc lại mình hồi trẻ."
Bà ấy nhìn tôi, không nói gì. Rồi đi pha cho tôi ấm trà.
---
Tôi không biết mình có viết lại được không. Sáu mươi ba tuổi rồi. Tay run. Mắt kém. Đầu không còn nhanh như xưa.
Nhưng sáng hôm sau, tôi ra quán cà phê đầu ngõ. Mang theo cái sổ mới. Ngồi xuống. Gọi ly đen.
Rồi tôi viết. Viết về bà cụ bán nước chè. Bà ấy mất lâu rồi. Nhưng tôi vẫn nhớ.
Tôi viết chậm. Chữ xấu. Câu ngắn hơn hồi xưa nhiều.
Nhưng tôi viết.
Không cho ai đọc. Không gửi báo nào. Không cần ai biết.
Chỉ viết thôi.