Cái quán phở sập tiệm hai lần trước khi tôi hiểu
The Pho Shop That Failed Twice Before I Understood
Tôi mở quán phở lần đầu năm ba mươi mốt tuổi.
Hồi đó tôi làm kế toán cho một công ty vật liệu xây dựng ở Bình Dương. Lương đủ sống. Nhưng mỗi sáng đi làm tôi đều nghĩ đến nồi nước dùng của má.
Má tôi bán phở ở chợ Bà Chiểu hơn hai mươi năm. Không bảng hiệu, không quạt trần, chỉ có cái xe đẩy với mấy cái ghế nhựa. Mà người ta xếp hàng.
Tôi nghĩ mình biết hết. Tôi lớn lên trong cái mùi nước dùng đó. Tôi biết ninh xương bao lâu, hành nướng kiểu gì, quế bỏ bao nhiêu.
Tôi nghỉ việc. Thuê mặt bằng ở gần khu công nghiệp. Sửa sang, mua bàn ghế inox, in menu. Vợ tôi nói chờ thêm vài tháng, để dành thêm tiền. Tôi nói không cần, mình biết nấu, người ta sẽ đến.
Tháng đầu đông khách. Công nhân ăn sáng, mấy anh tài xế ghé trưa. Tôi mừng lắm. Gọi cho má khoe.
Tháng thứ ba bắt đầu vắng. Có quán cơm mới mở gần hơn, rẻ hơn. Công nhân thay ca, giờ ăn đổi, tôi không kịp điều chỉnh. Tiền thuê mặt bằng mỗi tháng mười hai triệu. Nguyên liệu tăng giá. Tôi bắt đầu bớt xương, thêm nước.
Phở dở đi. Tôi biết. Nhưng tôi không dừng được.
Tháng thứ bảy tôi đóng cửa. Nợ hơn trăm triệu.
Vợ tôi không nói gì. Cái im lặng đó nặng hơn bất kỳ câu mắng nào. Tôi quay lại làm kế toán, công ty khác, lương thấp hơn trước vì đã nghỉ ngang.
Ba năm trả nợ.
Ba năm đó tôi không nấu phở. Không nấu gì cả. Về nhà, vợ nấu, tôi ăn. Xong rửa chén. Đi ngủ. Thức dậy đi làm.
Năm ba mươi bảy, nợ trả xong. Tôi nói với vợ, mình mở lại. Vợ nhìn tôi lâu lắm. Rồi nói được.
Lần này tôi thuê chỗ nhỏ hơn. Gần trường học, không phải khu công nghiệp. Tôi nấu đúng công thức má, không bớt gì. Giá cao hơn quán cũ, nhưng tôi không hạ.
Sáu tháng đầu lỗ. Nhưng lần này tôi biết lỗ. Tôi ghi sổ mỗi ngày. Tôi biết mình đang đốt bao nhiêu, còn bao nhiêu, chịu được bao lâu.
Tháng thứ tám bắt đầu có khách quen. Phụ huynh đưa con đi học, ghé ăn sáng. Mấy bà nội trợ mua mang về.
Tháng thứ mười hai, hòa vốn.
Tôi mừng. Nhưng không mừng như lần đầu. Lần đầu tôi mừng vì thấy mình giỏi. Lần này tôi mừng vì thấy mình còn sống.
Rồi năm bốn mươi, dịch đến.
Đóng cửa. Lần thứ hai.
Lần này không phải vì tôi nấu dở hay tính sai. Lần này không ai sai cả. Cả con phố đóng cửa. Cả thành phố đóng cửa.
Tôi ngồi trong quán trống. Nhìn mấy cái bàn inox. Nhìn nồi nước dùng nguội ngắt trên bếp. Tôi không khóc. Tôi không giận. Tôi chỉ ngồi.
Vợ tôi gọi, hỏi có về ăn cơm không. Tôi nói có.
Ba tháng sau, nới giãn cách, tôi không mở lại.
Không phải vì hết tiền. Còn đủ mở lại. Không phải vì sợ. Tôi đã sợ rồi, hai lần, biết sợ rồi.
Tôi không mở lại vì lần đầu tiên trong đời, tôi ngồi yên được.
Hồi ba mươi mốt, tôi mở quán vì muốn chứng minh mình làm được. Hồi ba mươi bảy, tôi mở lại vì muốn chứng minh mình không thua. Cả hai lần, cái quán không phải là quán. Nó là cái gì đó tôi dùng để nói với đời rằng tôi có giá trị.
Lần đầu sập, tôi nghĩ mình dở. Lần hai sập, tôi không nghĩ gì.
Và cái không nghĩ gì đó, nó lạ lắm. Nó không phải buông xuôi. Nó không phải chấp nhận. Nó giống như nhìn ra ngoài cửa sổ lúc trời mưa mà không cần biết bao giờ tạnh.
Sáu tháng sau tôi đi nấu thuê cho một quán ăn gia đình ở quận 7. Lương tám triệu. Bếp người ta, nồi người ta, thực đơn người ta.
Tôi nấu phở vào mỗi sáng thứ hai, vì quán có món phở trong menu.
Không ai biết tôi từng mở quán. Không ai hỏi. Tôi cũng không kể.
Mà lạ. Nồi phở tôi nấu ở bếp người ta, nó ngon hơn nồi phở tôi nấu ở quán mình.
Có thể vì tôi không cần nó phải ngon nữa.
Có thể vì lần đầu tiên, tôi nấu mà không nấu cho ai đánh giá.
Má tôi mất năm ngoái. Tám mươi hai tuổi. Trước khi mất, bà nói một câu mà tôi nghĩ hoài.
Bà nói: "Má bán phở không phải vì má giỏi. Má bán vì sáng nào má cũng dậy sớm."
Tôi bốn mươi ba tuổi.
Tôi không có quán. Tôi không có bảng hiệu. Tôi nấu phở ở bếp người ta, lương tám triệu.
Mà sáng nào tôi cũng dậy sớm.