Cái tủ sách tôi chở theo bảy lần dọn nhà
The Bookshelf I Carried Through Seven Moves
Tôi sáu mươi ba tuổi.
Bảy lần dọn nhà trong đời. Lần nào cũng có cái tủ sách đó.
Tủ gỗ xoan, ba ngăn, hồi đó mua ở tiệm đồ cũ trên đường Nguyễn Trãi. Năm tôi hai mươi bốn. Vừa ra trường, vừa thuê phòng trọ đầu tiên, vừa tin rằng mình sẽ thành người có chữ.
Tôi chất đầy sách lên đó. Triết học. Kinh tế. Lịch sử. Mấy cuốn tiếng Anh mua ở vỉa hè, đọc không hiểu hết nhưng để trên kệ thấy yên tâm.
Lần dọn nhà thứ nhất, tôi hai mươi bảy. Chuyển từ phòng trọ sang căn hộ nhỏ. Tủ sách nặng nhất. Phải thuê thêm người khiêng. Tôi không nghĩ đến chuyện bỏ bớt. Mỗi cuốn đều có lý do.
Lần thứ hai, ba mươi mốt. Cưới vợ, dọn về nhà thuê rộng hơn. Vợ hỏi sao sách nhiều vậy. Tôi nói rồi sẽ đọc. Vợ không hỏi thêm.
Lần thứ ba, ba mươi sáu. Con đầu lòng. Phòng chật, phải dồn đồ. Tôi dồn quần áo, dồn chén bát, nhưng tủ sách thì không đụng vào. Nó đứng ở góc phòng khách, giữa cái nôi em bé và cái quạt cũ.
Lần thứ tư, bốn mươi hai. Mua được căn nhà nhỏ. Tủ sách có chỗ đàng hoàng. Tôi lau từng cuốn, xếp lại theo chủ đề. Hôm đó tôi thấy vui. Như thể mình đã đi đến đâu đó.
Nhưng tôi không đọc lại cuốn nào.
Lần thứ năm, bốn mươi tám. Ly hôn. Chia đồ. Vợ không lấy cuốn sách nào. Tôi chở hết về phòng thuê mới. Căn phòng nhỏ hơn hồi hai mươi bốn. Tủ sách chiếm gần nửa.
Đêm đầu tiên trong phòng đó, tôi ngồi nhìn nó. Ba ngăn. Gỗ xoan đã sẫm màu. Mấy cuốn bìa đã bạc. Tôi rút ra một cuốn triết học mua năm hai mươi lăm tuổi, mở trang đầu.
Tôi không hiểu tôi hồi đó gạch chân cái gì.
Không phải vì tôi quên. Mà vì người gạch chân đó không còn là tôi nữa.
Tôi gấp lại. Để vào chỗ cũ.
Lần thứ sáu, năm mươi lăm. Con gái lấy chồng. Con trai đi làm xa. Tôi dọn về căn hộ nhỏ gần chợ, sống một mình. Tủ sách vẫn đi theo.
Nhưng lần này tôi bắt đầu nhìn nó khác.
Tôi không nhìn thấy sách nữa. Tôi thấy cái tôi hai mươi bốn tuổi, đứng trong tiệm đồ cũ, tin rằng mình cần thật nhiều thứ để thành một người đáng kể.
Tôi thấy cái tôi ba mươi sáu, không dám bỏ cuốn nào vì sợ bỏ xong thì mình còn lại gì.
Tôi thấy cái tôi bốn mươi hai, lau sách mà tưởng mình đang xây dựng gì đó.
Tôi thấy cái tôi bốn mươi tám, ôm sách về phòng trọ, không phải vì cần đọc, mà vì không biết buông cái gì trước.
Mỗi lần dọn nhà, tôi bỏ được nhiều thứ. Quần áo cũ. Chén bát sứt. Giày mòn. Hình cưới. Thậm chí cả giận hờn.
Nhưng tủ sách thì không.
Vì tủ sách không phải đồ vật. Nó là câu chuyện tôi kể về mình. Rằng tôi là người đọc sách. Rằng tôi là người có chiều sâu. Rằng tôi khác.
Bỏ nó đi thì tôi là ai?
Lần thứ bảy, năm ngoái. Sáu mươi hai tuổi.
Tôi dọn về quê. Căn nhà cấp bốn của ba mẹ để lại. Nhỏ. Vừa đủ.
Đồ đạc tôi gói gọn trong hai thùng. Quần áo, vài cái nồi, mấy tấm hình con.
Tủ sách tôi để lại.
Không phải cho ai. Không phải bán. Tôi gọi chủ nhà cũ, nói anh muốn giữ thì giữ, muốn bỏ thì bỏ.
Chủ nhà hỏi: "Sách quý vậy anh không lấy?"
Tôi nói: "Quý. Nhưng không phải của tôi nữa."
Hôm dọn xong, tôi ngồi ở hiên nhà cấp bốn. Trước mặt là cái sân nhỏ, mấy chậu kiểng ba trồng hồi xưa đã chết, chỉ còn đất.
Tôi không thấy thiếu.
Lạ. Bao nhiêu năm tôi sợ buông, sợ mình sẽ trống. Nhưng ngồi đó, tay không, tôi thấy nhẹ. Không phải nhẹ vì vui. Nhẹ vì không còn gì phải giữ.
Tôi nghĩ lại bảy lần dọn nhà.
Lần nào tôi cũng tưởng mình đang thêm. Thêm nhà mới, thêm đồ mới, thêm danh phận mới. Nhưng thật ra, mỗi lần dọn, tôi bớt đi một ít. Bớt sức khỏe. Bớt người bên cạnh. Bớt thời gian.
Cái duy nhất tôi không chịu bớt là câu chuyện về mình.
Cho đến khi tôi hiểu: câu chuyện đó cũng không phải mình.
Tối hôm đó tôi nằm nghe tiếng dế. Không sách. Không tủ. Không gì chứng minh tôi là ai.
Mà tôi vẫn ở đây.
Vẫn thở.
Vẫn nghe được tiếng dế.