Căn nhà bốn mươi năm
The Forty-Year House
Căn nhà đó tôi xây năm ba mươi tuổi.
Hồi đó chưa có gì. Vợ chồng mới cưới, mượn tiền anh hai, vay thêm hội, gom được miếng đất nhỏ ở quận 8. Nhà cấp bốn, mái tôn, nền xi măng. Mưa dột mấy chỗ. Nhưng là nhà mình.
Tôi nhớ buổi chiều đầu tiên dọn vào. Bà xã trải cái chiếu giữa nhà, nấu nồi cơm, kho mấy khứa cá. Hai đứa ngồi ăn dưới đất. Không bàn, không ghế. Mà vui.
Rồi con đầu ra đời. Tôi đóng cái nôi bằng gỗ tạp, treo ở góc phòng. Đêm nào cũng thức dậy hai ba lần, lắc nôi cho nó ngủ lại. Bà xã nằm cạnh, mệt quá ngủ say, tôi không nỡ kêu.
Năm năm sau, có tiền sửa nhà. Đổ thêm tầng. Tôi tự trộn hồ, tự xách gạch lên. Thợ kêu ông để tui làm, tôi nói kệ, nhà mình mình xây. Tay tôi chai hết mấy tháng trời.
Con thứ hai ra đời trong căn nhà đã có tầng lầu. Nó khóc to hơn anh nó. Bà xã bảo đứa này sau nói nhiều. Đúng thiệt.
Rồi mấy chục năm trôi.
Con lớn đi Mỹ. Con nhỏ lấy chồng Bình Dương. Bà xã mất cách đây sáu năm. Ung thư. Nhanh lắm. Từ lúc phát hiện tới lúc đi chưa được bốn tháng.
Căn nhà bỗng rộng ra.
Không phải rộng vì thiếu đồ. Rộng vì thiếu người.
Tôi sống một mình trong đó sáu năm. Sáng dậy, pha trà, ngồi ở cái ghế bà xã hay ngồi. Trưa nấu cơm một người. Chiều đi bộ ra công viên. Tối về, đóng cửa, lên lầu nằm.
Mỗi góc nhà đều có ký ức. Cái vết nứt ở tường phòng khách, hồi con lớn đá banh trúng. Cái móc áo sau cửa phòng ngủ, bà xã treo cái áo dài mặc ngày cưới, để đó mấy chục năm không gỡ. Cái bếp cũ, lúc nào cũng có mùi dầu ăn và hành phi.
Tôi giữ hết. Không sửa, không dọn, không thay.
Giữ như thể giữ được người.
Rồi năm ngoái, con lớn gọi về. Nó bảo ba bán nhà đi, qua đây ở với con. Hoặc không thì bán rồi mua căn hộ nhỏ, có bảo vệ, có thang máy, ba già rồi leo cầu thang không nổi.
Tôi nói để ba suy nghĩ.
Suy nghĩ mà mất gần một năm.
Không phải vì tiền. Căn nhà bán cũng được giá. Không phải vì sợ đổi chỗ ở. Tôi già rồi, ở đâu cũng ngủ được.
Mà vì tôi không biết rời đi thì mang theo được gì.
Cái vết nứt trên tường mang theo không được. Cái mùi hành phi mang theo không được. Cái bóng bà xã ngồi ở ghế mỗi chiều, mang theo không được.
Tôi sợ bước ra khỏi cửa lần cuối, quay lại nhìn, rồi từ đó không còn chỗ nào để nhìn nữa.
Mấy tháng trước, tôi bắt đầu dọn nhà.
Không phải dọn để bán. Dọn để nhìn lại.
Tôi mở từng ngăn tủ. Tìm thấy tập vở con lớn hồi lớp hai, chữ nguệch ngoạc, bài tập làm văn tả cha. Nó viết: "Ba tôi hay xách gạch. Ba tôi tay chai. Ba tôi thương má."
Tôi ngồi đó đọc đi đọc lại.
Tìm thấy cái hộp thiếc đựng nữ trang của bà xã. Mấy cái vòng rẻ tiền, một sợi dây chuyền mỏng, cái nhẫn cưới. Bà xã không thích đồ đắt. Bả nói đeo vàng nhiều sợ cướp giật.
Tôi cầm cái nhẫn lên. Nhỏ xíu. Nhẹ hều. Mà nặng.
Rồi tôi tìm thấy tấm hình cưới. Đen trắng. Hai đứa đứng trước tiệm chụp ảnh ở Chợ Lớn. Bà xã cười, tôi mặt nghiêm. Hồi đó tôi hay vậy, không biết cười trước ống kính.
Tôi nhìn tấm hình lâu lắm.
Rồi tôi hiểu một chuyện.
Những thứ tôi sợ mất, nó không nằm trong căn nhà. Nó nằm trong tôi. Cái vết nứt trên tường, tôi nhắm mắt vẫn thấy. Mùi hành phi, tôi đi đâu vẫn nhớ. Bà xã ngồi ở ghế mỗi chiều, tôi không cần ghế đó mới thấy bả.
Căn nhà là nơi chứa ký ức. Nhưng ký ức không ở trong nhà. Ký ức ở trong người sống.
Tôi gọi cho con lớn. Nói ba bán.
Nó im một lúc. Rồi hỏi: ba có buồn không?
Tôi nói: buồn chứ. Nhưng buồn không có nghĩa là sai.
Hôm ký giấy bán nhà, tôi đến sớm. Ngồi ở phòng khách lần cuối. Không pha trà, không làm gì. Chỉ ngồi.
Nắng chiều xuyên qua cửa sổ, đúng cái chỗ bà xã hay ngồi.
Tôi nhìn vệt nắng đó. Rồi đứng dậy, khóa cửa, đi ra.
Không quay lại.
Không phải vì không thương. Mà vì đã thương đủ rồi thì biết buông.