Sáu giờ sáng tôi vẫn dậy dù không còn ai chờ
I still wake at six even though no one is waiting
Sáu giờ sáng. Chuông reo.
Tôi dậy. Đánh răng. Pha cà phê. Ngồi vào bàn.
Không có ai ở nhà. Bà ấy mất ba năm rồi. Con cái ở xa. Cháu ngoại thỉnh thoảng gọi video, nhưng cũng phải tám chín giờ tối mới rảnh.
Vậy mà sáu giờ sáng, tôi vẫn dậy.
Không phải vì muốn. Không phải vì có việc. Mà vì cái chuông đó đã reo bốn mươi năm. Bốn mươi năm đi làm, bốn mươi năm dậy sớm, bốn mươi năm pha cà phê rồi ra khỏi nhà trước bảy giờ.
Bây giờ không còn đi đâu nữa. Nhưng cái chuông vẫn reo. Và tôi vẫn dậy.
---
Hồi còn đi làm, tôi hay nói với mấy đứa trẻ trong công ty: "Tao thèm nghỉ hưu lắm. Nghỉ rồi tao muốn làm gì thì làm."
Mấy đứa cười, bảo: "Anh sướng thiệt."
Tôi cũng cười. Tôi tin thiệt. Tôi nghĩ nghỉ hưu là tự do. Không ai quản, không ai kêu, không ai bắt. Muốn ngủ thì ngủ. Muốn đi thì đi. Muốn ngồi không thì ngồi không.
Rồi cái ngày đó tới.
Tôi nghỉ hưu.
Tháng đầu tiên, tôi ngủ đến tám giờ. Thấy lạ. Thấy sướng. Thấy mình đã thoát.
Tháng thứ hai, tôi bắt đầu dậy sớm lại. Không ai bắt. Tự dậy. Tự pha cà phê. Tự ngồi vào bàn. Rồi nhìn ra cửa sổ.
Tháng thứ ba, tôi mua cái chuông báo thức mới. Đặt sáu giờ.
Không biết vì sao. Chỉ thấy không có nó thì thiếu.
---
Bà ấy hồi còn sống hay cười tôi.
"Ông nghỉ rồi mà sống y như còn đi làm."
Tôi bảo: "Thói quen mà. Có gì đâu."
Bà ấy lắc đầu. Không nói thêm.
Hồi đó tôi không hiểu bà ấy lắc đầu vì gì. Bây giờ thì hiểu. Nhưng hiểu rồi cũng không thay đổi được.
Sáu giờ sáng. Chuông reo. Tôi dậy.
---
Con gái tôi về thăm dịp Tết. Nó thấy tôi dậy sớm, lụi cụi trong bếp.
"Ba ơi, ngủ thêm đi. Có gì đâu mà dậy sớm."
Tôi bảo: "Ba quen rồi con."
Nó nhìn tôi. Cái nhìn giống bà ấy. Rồi nó cũng lắc đầu.
Tôi cười. Bảo: "Đi ngủ lại đi. Để ba lo."
Nó đi. Tôi đứng trong bếp. Một mình.
Cà phê sôi. Tôi rót ra ly. Ngồi vào bàn. Nhìn ra cửa sổ.
Trời chưa sáng hẳn. Đường vắng. Mấy cái đèn đường vàng vàng.
Tôi uống một ngụm. Nóng.
Rồi tôi tự hỏi: mình đang uống vì thích, hay vì bốn mươi năm nay đều uống?
Không trả lời được.
---
Hồi ba mươi tuổi, tôi bỏ thuốc lá. Khó lắm. Mất gần một năm. Ai cũng khen. "Anh ý chí ghê." Tôi cũng tự hào.
Nhưng bỏ thuốc xong, tôi uống cà phê nhiều hơn. Rồi tập thể dục mỗi sáng. Rồi đọc báo đúng giờ. Rồi ăn cơm đúng bữa. Rồi ngủ đúng giấc.
Mỗi cái thói quen bỏ đi, lại có cái khác thế vào. Như cái lỗ trên tường. Rút cái đinh này ra, phải đóng cái đinh khác. Không thì tường trống. Mà tường trống thì tôi sợ.
Sợ gì? Không biết. Chỉ sợ.
---
Có ông bạn già, hồi trước làm chung cơ quan. Ổng nghỉ hưu trước tôi hai năm.
Tôi gặp ổng ở quán cà phê gần nhà. Ổng ngồi đó mỗi sáng. Đúng cái bàn đó. Đúng ly đen đá. Đúng tờ báo.
Tôi hỏi: "Anh ngồi đây hoài vậy?"
Ổng cười: "Ừ. Quen rồi. Không ra đây thì ở nhà cũng không biết làm gì."
Tôi ngồi xuống. Hai ông già uống cà phê. Không nói nhiều. Thỉnh thoảng bình luận mấy cái tin trên báo. Rồi ai về nhà nấy.
Hôm đó về, tôi nghĩ: ổng tự do không? Hay ổng cũng giống tôi, cả đời đi theo một cái lịch, bây giờ không có lịch thì tự vẽ ra một cái mới?
Rồi tôi nghĩ tiếp: vậy tự do là gì?
Là muốn làm gì thì làm? Hay là không cần làm gì mà vẫn yên?
---
Tôi nhớ có lần cháu ngoại hỏi: "Ông ơi, sao ông dậy sớm dữ vậy?"
Tôi bảo: "Ông quen rồi."
Nó hỏi tiếp: "Quen là gì hả ông?"
Tôi không biết trả lời sao. Nói đại: "Là làm hoài một chuyện, lâu rồi không nghĩ nữa, cứ làm thôi."
Nó nhìn tôi, mắt tròn xoe: "Vậy khác gì cái robot trong phim đâu ông."
Tôi cười. Nó cũng cười.
Nhưng tối đó tôi nằm nghĩ. Lâu lắm.
---
Bây giờ tôi sáu mươi bảy tuổi.
Mỗi sáng vẫn dậy lúc sáu giờ. Vẫn pha cà phê. Vẫn ngồi vào bàn. Vẫn nhìn ra cửa sổ.
Có hôm tôi thử không đặt chuông. Nằm trên giường. Chờ.
Sáu giờ mười. Sáu giờ hai mươi. Tôi trằn trọc. Không ngủ được. Thấy bứt rứt. Như thiếu cái gì.
Rồi tôi dậy. Pha cà phê. Ngồi vào bàn.
Thở ra.
Yên.
Cái yên đó, tôi không biết nó là bình an hay là giam cầm. Có khi cả hai. Có khi không phải cái nào.
Không ai tự do nếu còn làm nô lệ cho thân xác.
No man is free who is a slave to the body.
— Seneca, Letters to Lucilius, Thư 65
Diễn giải
Interpretation
Seneca nói: không ai tự do nếu còn làm nô lệ cho thân xác mình. Nghe thì tưởng ổng nói mấy người ham ăn ham ngủ. Nhưng không phải. Ổng nói cái thân xác này, nó có bộ nhớ riêng. Nó nhớ giờ dậy, nhớ ly cà phê, nhớ cái ghế quen. Nó nhớ hết. Và nó bắt mình làm theo. Ông già trong chuyện, ổng nghỉ hưu rồi. Không ai bắt. Không ai kêu. Nhưng cái thân ổng vẫn dậy sáu giờ. Vẫn pha cà phê. Vẫn ngồi vào bàn. Bốn mươi năm in vào xương vào thịt, bây giờ muốn xóa cũng không xóa được. Tự do không phải là không có ai giam. Mà là cái giam nằm ở trong. Cái thói quen, cái lịch trình, cái "quen rồi" mà mình nói mỗi ngày. Nó nhẹ nhàng lắm. Không xiềng không xích. Nhưng bỏ ra thì bứt rứt. Giữ lại thì yên. Cái yên đó, tự do hay giam cầm?
Seneca said: no one is free who is a slave to their body. You might think he meant people who overeat or oversleep. But no. He meant the body has its own memory. It remembers when to wake, remembers the coffee, remembers the familiar chair. It remembers everything. And it makes you obey. The old man in the story retired. No one forces him. No one calls him. But his body still wakes at six. Still makes coffee. Still sits at the table. Forty years printed into bone and flesh, and now he cannot erase it even if he wants to. Freedom is not the absence of a jailer. The jail is inside. The habit, the routine, the "I am used to it" you say every day. It is gentle. No chains, no shackles. But remove it and you feel restless. Keep it and you feel calm. That calm, is it freedom or captivity?