Về hưu rồi, tôi không biết mình là ai
After Retirement, I Did Not Know Who I Was
Sáu mươi hai tuổi. Tôi về hưu.
Bữa tiệc chia tay ở công ty, người ta đọc bài phát biểu. Nói tôi cống hiến ba mươi lăm năm. Nói tôi là chỗ dựa của phòng. Nói mọi người sẽ nhớ tôi.
Tôi ngồi nghe. Gật đầu. Cười đúng lúc.
Về nhà, bà xã hỏi vui không. Tôi nói vui. Rồi vào phòng tắm đứng nhìn gương một lúc.
Không biết nhìn cái gì. Chỉ đứng đó.
---
Tuần đầu về hưu, tôi dậy lúc sáu giờ như thường lệ. Quen rồi, cơ thể nó tự dậy. Nhưng không có chỗ để đi.
Tôi pha cà phê. Ngồi ngoài ban công. Nhìn mấy người dưới đường đi làm.
Họ vội vàng. Họ có chỗ để đến.
Tôi ngồi đó, ly cà phê trong tay, và lần đầu tiên trong mấy chục năm, tôi không biết mình phải làm gì tiếp theo.
Cái cảm giác đó lạ lắm. Không phải thoải mái. Không phải nhẹ nhõm. Nó giống như đứng giữa căn phòng rộng mà không có đồ đạc gì. Trống.
---
Tôi bắt đầu điền lịch.
Sáng thứ Hai đi bơi. Chiều thứ Ba học vẽ. Thứ Tư cà phê với mấy người bạn cũ. Thứ Năm đọc sách. Thứ Sáu đưa bà xã đi chợ.
Nhìn vào lịch thấy đầy. Tôi nghĩ vậy là ổn.
Nhưng tối nằm xuống, cái trống vẫn còn đó.
Tôi không hiểu tại sao. Lịch đầy mà. Tôi bận mà.
Mãi sau tôi mới nhận ra, mấy chục năm trước tôi cũng điền lịch như vậy. Họp lúc tám giờ. Báo cáo lúc mười giờ. Ăn trưa với khách hàng. Cũng đầy. Cũng bận. Nhưng hồi đó tôi không cảm thấy trống.
Vì hồi đó tôi có cái để bám vào. Tôi là trưởng phòng. Tôi là người ra quyết định. Tôi là cha. Tôi là chồng kiếm tiền.
Bây giờ mấy cái đó vẫn còn, nhưng nó không còn là thứ người ta cần tôi nữa.
Con cái đã lớn. Bà xã có cuộc sống của bà ấy. Công ty có người khác ngồi vào chỗ tôi rồi.
Tôi vẫn là tôi. Nhưng không ai cần tôi là tôi nữa.
---
Một buổi tối, thằng con trai gọi điện. Nó hỏi thăm bình thường. Cuối câu chuyện nó hỏi, ba dạo này thế nào.
Tôi định nói tốt. Câu đó tôi nói quen rồi.
Nhưng lần đó tôi dừng lại.
Tôi nói, ba không biết.
Nó im một chút. Rồi hỏi, ba không biết là sao.
Tôi nói, ba không biết ba là ai khi không còn đi làm nữa.
Nó im lâu hơn. Rồi nói, con cũng không biết con là ai ngoài công việc, ba ơi.
Hai cha con ngồi điện thoại, không ai nói gì thêm.
Lần đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy mình không cô đơn trong cái không biết đó.
---
Tôi có một người bạn, hơn tôi vài tuổi, về hưu trước tôi mấy năm. Hồi tôi mới về hưu, ông ấy hay rủ tôi đi uống cà phê.
Tôi hỏi ông ấy, hồi mới về hưu ông có thấy lạc không.
Ông ấy cười. Nói lạc chứ. Lạc mấy năm.
Tôi hỏi, rồi tìm lại được không.
Ông ấy ngừng khuấy cà phê. Nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc. Rồi nói, tôi không tìm lại được cái cũ. Nhưng tôi không còn cần tìm nữa.
Tôi hỏi sao vậy.
Ông ấy nói, vì tôi nhận ra cái mà tôi nghĩ là tôi, thật ra chỉ là mấy cái vai tôi đóng. Khi không còn vai nào để đóng, tôi hoảng. Nhưng hoảng xong thì thấy, phía dưới mấy cái vai đó, vẫn có gì đó. Chỉ là nó yên tĩnh quá, mấy chục năm mình không để ý.
Tôi ngồi nghe. Không nói gì.
Bữa đó về, tôi nghĩ mãi câu đó.
---
Có một buổi sáng, tôi không điền lịch.
Không phải vì quên. Mà vì tôi muốn thử.
Tôi dậy. Pha cà phê. Ra ban công ngồi. Không có điện thoại. Không có sách. Không có gì.
Chỉ ngồi.
Lúc đầu bứt rứt lắm. Tay cứ muốn với lấy cái gì đó. Đầu cứ muốn nghĩ tới việc phải làm.
Nhưng tôi cứ ngồi.
Một tiếng. Hai tiếng.
Rồi có gì đó lạ xảy ra. Không phải giác ngộ gì đâu. Không phải bình an gì to tát. Chỉ là, cái bứt rứt nó từ từ nhỏ lại. Và tôi nhận ra mình vẫn đang ngồi đó. Vẫn thở. Vẫn là mình.
Dù không có vai gì để đóng.
Dù không có ai cần mình.
Dù không biết mình là ai.
Vẫn là mình.
---
Tôi sáu mươi hai tuổi. Tôi không biết mình là ai ngoài những thứ người ta gắn cho tôi.
Cái đó tôi mất mấy chục năm mới nhận ra.
Và tôi không biết đó là mất mát hay là thứ tôi cần biết từ lâu rồi.
Chỉ là bây giờ tôi biết.
Và sáng nay tôi lại ra ban công. Lại ngồi. Lại không có gì trong tay.
Lần này ít bứt rứt hơn một chút.
俗人昭昭,我獨昏昏。俗人察察,我獨悶悶
Tục nhân chiêu chiêu, ngã độc hôn hôn. Tục nhân sát sát, ngã độc muộn muộn
Người đời sáng chói, riêng ta mờ mịt. Người đời phân biện, riêng ta hỗn độn.
The common people are bright and clear; I alone am dim and dull. The common people are sharp and clever; I alone am muddled.
— Lão Tử, Đạo Đức Kinh, Chương 20
Diễn giải
Interpretation
Lão Tử viết, người đời sáng chói, riêng ta tối tăm. Người đời lanh lợi, riêng ta mờ mịt. Hồi còn đi làm, tôi sáng chói. Có chức vụ. Có tiếng nói. Có chỗ đứng. Về hưu rồi, cái sáng chói đó tắt. Và tôi mới thấy, bấy lâu nay mình tưởng cái sáng đó là mình. Nhưng nó chỉ là ánh đèn từ bên ngoài chiếu vào. Lão Tử không nói tối tăm là xấu. Ông nói đó là chỗ để thấy cái gì thật sự là mình, khi không còn ánh đèn nào chiếu vào nữa. Cái mà người ta gọi là lạc lõng, đôi khi chỉ là lần đầu tiên mình đứng một mình, không có vai, không có đèn, và không biết mình trông như thế nào trong bóng tối đó.
Laozi wrote that the multitude are brilliant and clever, while he alone is dim and dull. When I was still working, I was brilliant. I had a title. A voice. A place. After retirement, that brilliance went out. And only then did I see that I had mistaken that brightness for myself. But it was only light coming from the outside, shining on me. Laozi does not say that being dim is bad. He says it is the place where you finally see what is truly yourself, when no outside light is shining on you anymore. What people call feeling lost is sometimes simply the first time you stand alone, without a role, without a light, and you do not know what you look like in that darkness.